Quản lý nhà nước chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam

Quản lý nhà nước chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam

Tác giả: ISOCUS | 19-04-2017, 5:58 pm

Cơ sở của quản lý nhà nước về chất lượng

Xuất phát từ quan điểm kinh tế – xã hội – kỹ thuật về chất lượng, quản lý chất lượng cũng chịu sự chi phối trực tiếp của đường lối, chủ trương phát triển kinh tế.
Có thể nêu lên những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu quyết định đến quản lý chất lượng, bao gồm:

  • Định hướng phát triển kinh tế.Trước đây là nền kinh tế kế hoạch hóa cao độ, tập trung và bao cấp, hiện nay là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo các quy luật của thị trường, trong xu hướng hội nhập quốc tế, và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa;
  • Tôn trọng và phát huy đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, đó là quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu và quy luật giá trị;
  • Đảm bảo phát triển kinh tế bền vững (bảo vệ môi trường) và hài hòa các lợi ích của người sản xuất, kinh doanh, của người lao động, của người tiêu dùng và của nhà nước (đảm bảo phúc lợi xã hội và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa);
  • Các chính sách của Nhà nước về khoa học kỹ thuật, các biện pháp khuyến khích áp dụng thành tựu khoa học công nghệ, đổi mới và chuyển giao công nghệ, hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ…;
  • Các vấn đề hợp tác, đấu tranh và cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế, khu vực và quốc tế.

Phân định trách nhiệm quản lý
Khác với các lĩnh vực khác, hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa diễn ra ở hầu hết các Bộ, ngành. Do vậy, ngoài quy định trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, còn quy định cụ thể trách nhiệm quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực khác. Theo đó, các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của Bộ, ngành; tổ chức và chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất… Đặc biệt đã quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường, trong quá trình sử dụng có khả năng gây mất an toàn, cụ thể như sau:

  • Bộ Y tế chịu trách nhiệm đối với thực phẩm, dược phẩm, vắc xin, sinh phẩm y tế, mỹ phẩm, nguyên liệu sản xuất thuốc và thuốc cho mọi người, hóa chất gia dụng, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn, trang thiết bị y tế;
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đối với cây trồng, vật nuôi, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công trình thủy lợi, đê điều;
  • Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm đối với phương tiện giao thông vận tải, phương tiện, thiết bị xếp dỡ, thi công vận tải chuyên dùng, phương tiện, thiết bị thăm dò, khai thác trên biển, công trình hạ tầng giao thông;
  • Bộ Công Thương chịu trách nhiệm đối với thiết bị áp lực, thiết bị nâng đặc thù chuyên ngành công nghiệp, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, trang thiết bị khai thác mỏ, dầu khí, trừ các thiết bị, phương tiện thăm dò, khai thác trên biển;
  • Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm đối với công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình hạ tầng kỹ thuật;
  • Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm đối với phương tiện, trang thiết bị quân sự, vũ khí đạn dược, khí tài, sản phẩm phục vụ quốc phòng, công trình quốc phòng;
  • Bộ Công an chịu trách nhiệm đối với trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy; trang thiết bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược, khí tài,công cụ hỗ trợ, trừ phương tiện, trang thiết bị quân sự, vũ khí đạn dược, khí tài, sản phẩm phục vụ quốc phòng, công trình quốc phòng.

Phân loại đối với sản phẩm, hàng hóa theo mức độ gây mất an toàn
Khi sản phẩm có khuyết tật không được kiểm soát tốt từ quá trình sản xuất, hoặc hàng hóa phát sinh khuyết tật trong quá trình vận chuyển, bảo quản, lưu thông, sử dụng, thì có khả năng sản phẩm, hàng hóa đó gây mất an toàn ở mức độ khác nhau. Căn cứ mức độ gây mất an toàn khi có hoặc phát sinh khuyết tật, sản phẩm, hàng hóa được phân thành 2 nhóm sau:

  • Nhóm 1 gồm những sản phẩm, hàng hóa không có hoặc ít có khả năng gây mất an toàn. Sản phẩm, hàng hóa được coi là không có hoặc ít có khả năng gây mất an toàn nếu trong điều kiện sử dụng bình thường và hợp lý, nếu có hoặc phát sinh khuyết tật chúng vẫn không gây ra nguy hại hoặc ít có khả năng gây ra nguy hại đến sức khỏe và sự an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản và môi trường;
  • Nhóm 2gồm những sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn. Sản phẩm, hàng hóa được coi là có khả năng gây mất an toàn nếu trong điều kiện sử dụng bình thường và hợp lý, nếu có hoặc phát sinh khuyết tật chúng vẫn có khả năng gây ra nguy hại đến sức khỏe và sự an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản và môi trường.

Trong nhóm 2, còn có thể chia sản phẩm, hàng hóa thành 2 phân nhóm theo khả năng gây mất an toàn ở mức độ trung bình và ở mức độ cao; phân nhóm ở mức độ cao đòi hỏi phải có sự kiểm soát nghiêm ngặt của Nhà nước không chỉ ở sản phẩm đầu ra của sản xuất mà cả ở các khâu quan trọng trong quá trình nghiên cứu thiết kế, tổ chức sản xuất và kiểm tra trong nội bộ cơ sở sản xuất.
b. Phân định khu vực quản lý  
Tuy quá trình hình thành, hoàn chỉnh sản phẩm, lưu thông trên thị trường và đưa vào sử dụng sản phẩm là một quá trình liên tục, nhưng để xác định các biện pháp quản lý chất lượng thích hợp, quá trình này được phân chia thành 3 khu vực quản lý riêng. Đó là khu vực sản xuất, khu vực nhập khẩu và khu vực lưu thông trên thị trường.
Quản lý chất lượng tại khu vực sản xuất
Trong toàn bộ chu trình sống của sản phẩm, hàng hóa, khu vực này quan trọng nhất vì đây chính là nơi hình thành, sáng tạo ra đặc tính về chất lượng và tính an toàn của sản phẩm, cần có sự đầu tư mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Việc tổ chức quản lý, kiểm soát chất lượng ở khu vực sản xuất chính là nhằm kiểm soát từ gốc, chủ yếu là triển khai các biện pháp có tính chất phòng ngừa rủi ro của sản phẩm trước khi ra thị trường, hạn chế ngay từ đầu các tổn thất về kinh tế cho nhà sản xuất và nền kinh tế chung, cũng như tránh các rủi ro về an toàn cho con người, tài sản, môi trường. Đối với sản phẩm thuộc Nhóm 1, nhà sản xuất phải tự tổ chức quản lý chất lượng bằng việc công bố tiêu chuẩn và tự đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn đã được công bố thông qua việc tự đánh giá hoặc đánh giá sự phù hợp của bên thứ ba.
Đối với sản phẩm thuộc Nhóm 2, nhà sản xuất phải công bố hợp quy hoặc chứng nhận hợp quy thông qua kết quả đánh giá sự phù hợp của bên thứ ba.
Sản phẩm thuộc Nhóm 2, nhưng có yêu cầu quản lý nghiêm ngặt về an toàn (dược phẩm, thực phẩm, hóa chất có tính độc, vật liệu nổ, thiết bị nâng hạ, phương tiện giao thông vận tải, nồi hơi, thiết bị áp lực, …) còn phải được quản lý bằng quy chế đặc biệt.
Các loại hình (mô đun) đánh giá sự phù hợp gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động sau đây:

  • Thử nghiệm mẫu sản phẩm;
  • Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng sản phẩm;
  • Giám sát việc duy trì chất lượng sản phẩm sau chứng nhận.

Mô đun chứng nhận được áp dụng phổ biến đối với khu vực sản xuất là thử nghiệm mẫu sản phẩm (hợp chuẩn, hợp quy) kết hợp với chứng nhận hệ thống quản lý (ISO 9000, HACCP, GMP, SA 8000, …). Sau khi được đánh giá và chứng nhận phù hợp, sản phẩm sẽ được mang dấu chứng nhận (dấu hợp chuẩn, hợp quy), trừ một số loại sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, dễ bị biến đổi theo thời gian (dược phẩm, thực phẩm, …).
Đối với chứng nhận hợp quy, Bộ Khoa học và Công nghệ quy định điều kiện đối với tổ chức chứng nhận. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Bộ chuyên ngành) chỉ định tổ chức chứng nhận thực hiện việc chứng nhận hợp quy.
Dấu hợp chuẩn là dấu thuộc sở hữu của mỗi Tổ chức chứng nhận. Tổ chức này quy định về dấu hợp chuẩn, cách thức thể hiện dấu hợp chuẩn.
Dấu hợp quy là dấu của Nhà nước, việc quản lý dấu hợp quy thuộc thẩm quyền quản lý của Cơ quan Nhà  nước. Nhà sản xuất tự gắn dấu.
– Quản lý chất lượng tại khu vực nhập khẩu
Khu vực nhập khẩu, có phần gần với khu vực sản xuất, vì người nhập khẩu đóng vai trò cung cấp hàng hóa ra thị trường giống như người sản xuất. Trong luật về an toàn sản phẩm của các nước Châu Âu, người nhập khẩu được định nghĩa như là một bộ phận của người sản xuất. Hàng hóa nhập khẩu được quản lý chất lượng theo đúng nguyên tắc đối với sản phẩm tương ứng được sản xuất tại Việt Nam.
Đối với hàng hóa thuộc nhóm 1, nhà quản lý chất lượng đối với sản phẩm của mình thông qua các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng thương mại với nhà xuất khẩu và tự đảm bảo chất lượng hàng hóa phù hợp với hợp đồng thông qua việc tự đánh giá hoặc đánh giá sự phù hợp tổ chức giám định do hợp đồng quy định.
Đối với hàng hóa thuộc nhóm 2, nhà nhập khẩu thực hiện nghĩa vụ quản lý chất lượng dựa trên kết quả của một nhóm phương thức sau:

  • Kiểm tra tại bến đến: Công bố hợp quy hoặc chứng nhận hợp quy thông qua kết quả đánh giá sự phù hợp của bên thứ ba do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định;
  • Kiểm tra tại bến đi: Thừa nhận dựa trên Hiệp định/ Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và đối tác, hoặc do cơ quan nhà nước chỉ định (đơn phương) tổ chức nước ngoài kiểm tra ngay từ nước xuất khẩu.

Hàng hóa nhập khẩu được phép sử dụng dấu hợp quy sau khi nhà nhập khẩu công bố hợp quy hoặc chứng nhận hợp quy.
– Quản lý chất lượng hàng hóa lưu hành trên thị trường  
Khu vực thị trường là nơi tiếp nhận thụ động kết quả của sản xuất (chất lượng và tính an toàn của hàng hóa), là nơi diễn ra quan hệ mua bán, phát sinh xung đột và tranh chấp. Các biện pháp quản lý của Nhà nước ở khu vực này không nhằm nâng giá trị tạo các yếu tố chất lượng (trong đó có yêu cầu về an toàn) của sản phẩm, hàng hóa mà chỉ là biện pháp kiểm soát khắc phục hậu quả và xử lý vi phạm. Hàng hóa thuộc Nhóm 1 lưu thông trên thị trường phải được kiểm tra xác suất về định lượng, ghi nhãn và các quy định về vận chuyển, lưu giữ có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu chất lượng.
Hàng hóa thuộc Nhóm 2 lưu thông trên thị trường còn phải được tổ chức kiểm soát các chỉ tiêu liên quan đến yêu cầu đảm bảo an toàn được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Khác với việc quản lý trong khu vực sản xuất và khu vực nhập khẩu (do các tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định tiến hành), công tác kiểm soát chất lượng hàng hóa trên thị trường do cơ quan quản lý của Nhà nước ở trung ương (các Cục quản lý chuyên ngành thuộc các Bộ) và ở địa phương (các Chi cục, Sở, …) trực tiếp thực hiện.
Cơ quan kiểm tra nói trên chỉ định tổ chức thử nghiệm mẫu hàng hóa được kiểm tra.
Bộ Khoa học và Công nghệ quy định điều kiện đối với tổ chức thử nghiệm được quy định.

 
c. Nguyên tắc phân định trách nhiệm quản lý giữa nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, người bán và nhà nước
Đối với mỗi loại sản phẩm cụ thể, tùy theo yêu cầu về đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng, trong từng giai đoạn cụ thể của toàn bộ quá trình hình thành, phát triển, hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng của sản phẩm, việc quản lý và kiểm soát được phân định theo hai nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người bán tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn do mình công bố hoặc ký hợp đồng với đối tác thương mại.
Đối với những sản phẩm và các giai đoạn không có yêu cầu về an toàn, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hoàn toàn thuộc quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà sản xuất. Trong trường hợp này các chính sách, biện pháp của Nhà nước có tính chất khuyến khích, thúc đẩy, tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, phù hợp với các quy luật kinh tế – xã hội để nhà sản xuất có cơ hội phát triển sản xuất, đảm bảo hài hòa lợi ích của tất cả các bên có liên quan.
Nguyên tắc 2: Quản lý nhà nước về chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật
Nhà nước tổ chức quản lý và kiểm soát những sản phẩm, những giai đoạn có yêu cầu trực tiếp đến việc đảm bảo an toàn của sản phẩm. Khái niệm an toàn ở đây được hiểu trong một phạm vi rộng bao gồm an toàn đối với con người, động thực vật, tài sản và môi trường. Ngay cả trong giai đoạn này, các hoạt động kỹ thuật cụ thể (thử nghiệm sản phẩm, kiểm tra kỹ thuật và giám định hàng hóa nhập khẩu) đều được xã hội hóa theo hướng cơ quan nhà nước không trực tiếp can thiệp vào sản xuất, kinh doanh, nhưng nắm quyền lựa chọn và chỉ định các tổ chức dịch vụ kỹ thuật thực hiện việc thử nghiệm, kiểm tra kỹ thuật. Trong các giai đoạn này, cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện các hoạt động hoàn toàn có tính chất quản lý như:

  • Quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa phải kiểm soát chất lượng;
  • Quy định các chỉ tiêu và mức chất lượng (chủ yếu là yêu cầu an toàn) cần phải kiểm soát;
  • Quy định phương thức kiểm soát;
  • Chỉ định tổ chức dịch vụ kỹ thuật thuộc mọi thành phần kinh tế (phòng thử nghiệm, tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định) thực hiện việc kiểm tra kỹ thuật của sản phẩm.

Hai giai đoạn cơ bản của quản lý chất lượng
Hiện nay, việc quản lý chất lượng đã chuyển từ việc kiểm soát đối tượng cụ thể, công đoạn cụ thể sang việc quản lý toàn bộ quá trình sống của sản phẩm từ khâu nghiên cứu tiền sản xuất, tổ chức sản xuất sản phẩm, tổ chức việc phân phối và lưu thông hàng hóa; trong một số trường hợp còn cần phải kiểm soát việc sử dụng hàng hóa sau khi bán đến tay người sử dụng (đặc biệt đối với các hàng hóa có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn).
Như vậy, quản lý chất lượng sản phẩm là quản lý toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm, lưu thông hàng hóa và sử dụng hàng hóa.
Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam được chia thành hai giai đoạn cơ bản là:

  • Xây dựng và ban hành văn bản pháp luật tiêu chí về chất lượng (tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật) của sản phẩm, hàng hóa;
  • Tổ chức việc đánh giá sự phù hợp (chứng nhận, giám định, thử nghiệm) của hàng hóa so với tiêu chí đã được xác định trước, theo thủ tục, quy trình, phương thức đã được xác định trước.

Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về chất lượng
– Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật
– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, công cụ để quản lý chất lượng của sản phẩm, hàng hóa được chia thành 2 loại sau đây:
– Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế – xã hội nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của các đối tượng. Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng;
– Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế – xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng. Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam bao gồm:
+ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, ký hiệu là QCVN;
+ Quy chuẩn kỹ thuật địa phương, ký hiệu là QCĐP.
b. Tổ chức việc đánh giá sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa 
Cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, hoạt động đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH) ngày càng trở nên quan trọng. ĐGSPH là một công cụ của quản lý chất lượng, nó đưa ra cách thức để xác định sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan. Nói cách khác, ĐGSPH giúp cho người sử dụng yên tâm sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã được cam kết đúng quy định; giúp cho nhà cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tạo dựng lòng tin đối với khách hàng. Đánh giá sự phù hợp được hiểu là một trong ba hoạt động cơ bản hình thành nên cơ sở hạ tầng chất lượng. Những đóng góp của hoạt động tiêu chuẩn hóa trong việc thúc đẩy thương mại, phát triển kinh tế sẽ không thể đạt được nếu như không có sẵn các công cụ, biện pháp đánh giá và xác định mức độ phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đối với các yêu cầu quy định của tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Thời gian qua, hoạt động ĐGSHP tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan.
Hoạt động đánh giá sự phù hợp được chia làm hai hình thức là đánh giá hợp chuẩn(phù hợp tiêu chuẩn), được người sản xuất kinh doanh tự nguyện áp dụng; và đánh giá hợp quy(phù hợp quy chuẩn kỹ thuật) theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đánh giá sự phù hợp là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, công nhận năng lực của phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định.

Quản lý chất lượng = Xây dựng, ban hành tiêu chí + Đánh giá sự phù hợp

 



Bình luận
Gửi câu hỏi
Tin liên quan
Tin nổi bật
icon zalo
0937.619.299