Phân chia khu vực quản lý chất lượng

Phân chia khu vực quản lý chất lượng

Tác giả: ISOCUS | 19-04-2017, 5:58 pm

Đối với mỗi loại sản phẩm cụ thể, tuỳ theo yêu cầu về đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng, trong từng giai đoạn cụ thể của toàn bộ quá trình hình thành, phát triển, hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng của sản phẩm, việc quản lý và kiểm soát được phân định theo hai nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Nhà sản xuất nhà nhập khẩu và người bán  tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn do mình công bố hoặc ký hợp đồng với đối tác thương mại.
Đối với những sản phẩm và các giai đoạn không có yêu cầu về an toàn, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hoàn toàn thuộc quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà sản xuất. Trong trường hợp này các chính sách, biện pháp của Nhà nước có tính chất khuyến khích, thúc đẩy, tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, phù hợp với các quy luật kinh tế – xã hội để nhà sản xuất có cơ hội phát triển sản xuất, đảm bảo hài hoà lợi ích của tất cả các bên có liên quan.
Nguyên tắc 2: Quản lý nhà nước về chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật
Nhà nước tổ chức quản lý và kiểm soát những sản phẩm, những giai đoạn có yêu cầu trực tiếp đến việc đảm bảo an toàn của sản phẩm. Khái niệm an toàn ở đây được hiểu trong phạm vi rộng, bao gồm an toàn đối với con người, động thực vật, tài sản và môi trường. Ngay cả trong các giai đoạn này, các hoạt động kỹ thuật cụ thể (thử nghiệm sản phẩm, đánh giá chứng nhận sản phẩm, kiểm tra kỹ thuật và giám định hàng hoá nhập khẩu) đều được xã hội hoá theo hướng cơ quan nhà nước không trực tiếp can thiệp vào sản xuất, kinh doanh, nhưng nắm quyền lựa chọn và chỉ định các tổ chức dịch vụ kỹ thuật thực hiện việc thử nghiệm, kiểm tra kỹ thuật. Trong các giai đoạn này, cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện các hoạt động hoàn toàn có tính chất quản lý như:
– Quy định Danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm soát chất lượng.
– Quy định các chỉ tiêu và mức chất lượng (chủ yếu là yêu cầu an toàn) cần phải kiểm soát.
– Quy định phương thức kiểm soát.
– Chỉ định tổ chức dịch vụ kỹ thuật thuộc mọi thành phần kinh tế (phòng thử nghiệm, tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định) thực hiện việc kiểm tra kỹ thuật của sản phẩm.
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI KHU VỰC SẢN XUẤT
Khu vực sản xuất sản phẩm: Trong toàn bộ quá trình sống của sản phẩm, hàng hoá, khu vực này quan trọng nhất vì đây chính là nơi hình thành, sáng tạo ra các đặc tính về chất lượng và tính an toàn của sản phẩm, cần có sự đầu tư mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Việc tổ chức quản lý, kiểm soát chất lượng ở khu vực sản xuất chính là nhằm kiểm soát từ gốc, chủ yếu là triển khai các biện pháp có tính chất phòng ngừa rủi ro của sản phẩm trước khi ra thị trường, hạn chế ngay từ đầu các tổn thất về kinh tế  cho nhà sản xuất và nền kinh tế chung, cũng như tránh các rủi ro về an toàn cho con người, tài sản, môi trường.
Đối với sản phẩm thuộc nhóm 1, nhà sản xuất phải tự tổ chức quản lý chất lượng bằng việc công bố tiêu chuẩn và tự đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn đã được công bố thông qua việc tự đánh giá hoặc đánh giá sự phù hợp của bên thứ ba.
Đối với sản phẩm thuộc nhóm 2, nhà sản xuất phải công bố hợp quy hoặc chứng nhận hợp quy thông qua kết quả đánh giá sự phù hợp của bên thứ ba.
Sản phẩm thuộc nhóm 2, nhưng có yêu cầu quản lý nghiêm ngặt về an toàn (dược phẩm, thực phẩm, hoá chất có tính độc, vật liệu nổ, thiết bị nâng hạ, phương tiện giao thông vận tải, nồi hơi, thiết bị áp lực…) còn phải được quản lý bằng quy chế đặc biệt.
Các loại hình (môđun) đánh giá sự phù hợp gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động sau đây:
– Thử nghiệm mẫu sản phẩm;
– Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng sản phẩm;
– Giám sát việc duy trì chất lượng sản phẩm sau chứng nhận.
Môđun chứng nhận được áp dụng phổ biến đối với khu vực sản xuất là thử nghiệm mẫu sản phẩm (hợp chuẩn, hợp quy) kết hợp với chứng nhận hệ thống quản lý (ISO 9000, HACCP, GMP, SA 8000, …). Sau khi được đánh giá và chứng nhận phù hợp, sản phẩm sẽ được mang dấu chứng nhận (dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy), trừ một số loại sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, dễ bị biến đổi theo thời gian (dược phẩm, thực phẩm…).
Đối với chứng nhận hợp quy, Bộ Khoa học và Công nghệ quy định điều kiện đối với tổ chức chứng nhận. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Bộ chuyên ngành) chỉ định tổ chức chứng nhận thực hiện việc chứng nhận hợp quy.
Dấu hợp chuẩn là dấu thuộc sở hữu của mỗi Tổ chức chứng nhận. Tổ chức này quy định về dấu hợp chuẩn, cách thức thể hiện dấu hợp chuẩn của mình.
Dấu hợp quy là dấu của Nhà nước, việc quản lý dấu hợp quy thuộc thẩm quyền quản lý của Cơ quan Nhà nước. Nhà sản xuất tự gắn dấu.
Việc quản lý chất lượng sản phẩm trong sản xuất được quy định theo Mục 2, điều 28, 29, 30 và 31 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa cũng như quy định chi tiết tại Nghị định 132/2008/NĐ-CP, Mục 1 Điều 4, 5, 6.
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI KHU VỰC NHẬP KHẨU
Khu vực nhập khẩu, có phần gần với khu vực sản xuất, vì người nhập khẩu đóng vai trò cung cấp hàng hoá ra thị trường giống như người sản xuất. Trong luật về an toàn sản phẩm của các nước Châu Âu, người nhập khẩu được định nghĩa như là một bộ phận của người sản xuất.
Hàng hóa nhập khẩu được quản lý chất lượng theo đúng nguyên tắc đối với sản phẩm tương ứng được sản xuất tại Việt Nam.
Đối với hàng hóa thuộc nhóm 1, nhà nhập khẩu tự quản lý chất lượng đối với hàng hoá của mình thông qua các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng thương mại với nhà xuất khẩu, và tự đảm bảo chất lượng hàng hóa phù hợp với hợp đồng thông qua việc tự đánh giá hoặc đánh giá sự phù hợp Tổ chức giám định do hợp đồng quy định.
Đối với hàng hóa thuộc nhóm 2, nhà nhập khẩu thực hiện nghĩa vụ quản lý chất lượng dựa trên kết quả của một trong các phương thức sau:
– Kiểm tra tại bến đến : Công bố hợp quy hoặc chứng nhận hợp quy thông qua kết quả đánh giá sự phù hợp của bên thứ ba do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ định.
– Kiểm tra tại bến đi : Thừa nhận dựa trên Hiệp định/Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và các đối tác, hoặc do cơ quan Nhà nước chỉ định (đơn phương) tổ chức nước ngoài kiểm tra ngay từ nước xuất khẩu.
Hàng hóa nhập khẩu được phép sử dụng dấu hợp quy sau khi nhà nhập khẩu công bố hợp quy hoặc được chứng nhận hợp quy.
Việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu được quy định theo Mục 4, điều 34, 35, 36 và 37 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa cũng như quy định chi tiết tại Nghị định 132/2008/NĐ-CP, Mục 2 Điều 7, 8.
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI KHU VỰC THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Khu vực thị trường là nơi tiếp nhận thụ động kết quả của sản xuất (chất lượng và tính an toàn của hàng hoá), là nơi diễn ra quan hệ mua bán, phát sinh xung đột và tranh chấp. Các biện pháp quản lý của Nhà nước ở khu vực này không nhằm nâng giá trị tạo các yếu tố chất lượng (trong đó có yêu cầu về an toàn) của sản phẩm, hàng hoá; mà chỉ là biện pháp kiểm soát khắc phục hậu quả và xử lý vi phạm.
Hàng hoá thuộc nhóm 1 lưu thông trên thị trường phải được kiểm tra xác suất về định lượng, ghi nhãn và các quy định về vận chuyển, lưu giữ có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu chất lượng.
Hàng hoá thuộc nhóm 2 lưu thông trên thị trường còn phải được tổ chức  kiểm soát các chỉ tiêu liên quan đến yêu cầu đảm bảo an toàn được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Khác với việc quản lý trong khu vực sản xuất và khu vực nhập khẩu (do các tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định tiến hành), công tác kiểm soát chất lượng hàng hoá trên thị trường do Cơ quan quản lý của Nhà nước ở Trung ương (các Cục quản lý chuyên ngành thuộc các Bộ) và ở địa phương (các Chi cục, Sở…) trực tiếp thực hiện.
Cơ quan kiểm tra nói trên chỉ định tổ chức thử nghiệm mẫu hàng hoá được kiểm tra.
Bộ Khoa học và Công nghệ quy định điều kiện đối với tổ chức thử nghiệm được chỉ định.
Việc quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường được quy định theo Mục 5, điều 38, 39, 40 và 41 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa cũng như quy định chi tiết tại Nghị định 132/2008/NĐ-CP, Mục 4 Điều 11, 12, 13.



Bình luận
Gửi câu hỏi
Tin liên quan
Tin nổi bật
0978.679.199