Hội nhập kinh tế quốc tế về quản lý chất lượng SPHH của Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế về quản lý chất lượng SPHH của Việt Nam

Tác giả: ISOCUS | 19-04-2017, 5:58 pm
Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Để hoạt động vừa đảm bảo...

Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Để hoạt động vừa đảm bảo được cam kết đã ký kết vừa hỗ trợ được hàng hóa sản xuất trong nước là vấn đề rất khó khăn.
Vì vậy, hàng loạt vấn đề đặt ra là:

  • Hoàn thiện hệ thống pháp luật về trong lĩnh vực quản lý chất lượng sản phẩm để đáp ứng được các yêu cầu của ASEAN/ACCSQ và WTO/TBT. Khi tất cả các quy định kỹ thuật, các thể chế đều minh bạch rõ ràng, vai trò nhà nước sẽ không còn tác động lớn đến cơ chế thị trường, các sản phẩm hàng hóa sẽ phải cạnh tranh quyết liệt về chất lượng, yếu tố chất lượng sẽ được coi là quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp.
  • Đặc biệt việc chuẩn bị những điều kiện để thực hiện Hiệp định TPP (dự kiến sẽ được ký kết vào năm 2014) sẽ là cơ hội lớn cũng như là một thử thách lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam. Với nội dung vượt xa các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã tham gia, hiệp định TPP mở ra viễn cảnh xây dựng một khu vực tự do thương mại rộng lớn với những chuẩn mực mới của thế kỷ XXI, phạm vi hẹp chỉ 12 thành viên tham gia đàm phán, trong đó Hoa Kỳ là “chủ bài” duy nhất nên nhiều nội dung trong các phiên đàm phán luôn mang quan điểm của Hoa Kỳ là chính. Nếu nhìn về các nội dung chính của Hiệp định tập trung vào các yêu cầu theo cam kết trong WTO về việc thực thi Hiệp định TBT gồm: các quy định về tiêu chuẩn (standard), quy định kỹ thuật (technical regulation) và tính minh bạch hóa về quy trình đánh giá sự phù hợp (conformity assessment  procedures). Theo WTO thì chỉ thực hiện nghĩa vụ minh bạch hóa liên quan đến các quy trình đánh giá hợp quy (sản phẩm phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia), tuy nhiên TPP yêu cầu minh bạch cả quy trình đánh giá hợp quy và hợp chuẩn đối với sản phẩm trên trang tin điện tử đơn, có nghĩa là tất cả các thông tin công bố của một quốc gia đều nằm trong một trang tin điện tử (single website) để đang tải những nội dung cơ bản.

Sự minh bạch hóa hệ thống văn bản pháp luật, từ lúc soạn thảo và quá trình góp ý chỉnh sửa, Việt Nam sẽ rất khó tạo ra những quy định kỹ thuật để quản lý chất lượng hàng nhập khẩu. Khi các rào cản kỹ thuật bị hạn chế dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa ngoại nhập về chất lượng và giá cả, lúc đó có thể diễn ra các kịch bản:
Thứ nhất: Nếu duy trì hệ thống quản lý nhà nước về chất lượng như hiện nay, thì thị trường Việt Nam sẽ tồn tại hai hệ thống hàng hóa, hàng chất lượng cao từ nước ngoài nhập vào và hàng giá rẻ do thị trường trong nước cung cấp (do lắp ráp từ thiết bị của các nhà sản xuất Trung Quốc), do người tiêu dùng Việt Nam phần lớn là người lao động có thu nhập thấp nên họ sẵn sàng mua hàng phù hợp túi tiền nên hàng chất lượng thấp vẫn tồn tại. Với hệ thống pháp luật và cách thức tổ chức thực hiện của các cơ quan quản lý chất lượng SPHH như hiện nay thì khả năng hàng nhái, hàng giả vẫn phát triển tốt. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của hàng hóa Việt Nam xuất khẩu ra bên ngoài và sự an toàn cho người sử dụng tiếp tục bị đe dọa.
Thứ hai: Nếu lập tức thắt chặt thị trường về chất lượng thì hàng hóa trên thị trường Việt Nam sẽ được cải thiện về chất lượng, tuy nhiên sẽ ảnh hưởng lớn đến các nhà sản xuất trong nước, hàng loạt các doanh nghiệp sẽ bị phá sản do thiếu vốn, công nghệ sản xuất ra hàng hóa có chất lượng. Như vậy, mặc dù chất lượng hàng hóa trên thị trường được cải thiện, nhưng các mục tiêu chiến lược, chương trình năng suất quốc gia đến năm 2020 sẽ bị đổ vỡ.
Thứ ba: Thắt chặt thị trường theo lộ trình, tiếp tục tạo ra những rào cản kỹ thuật hạn chế hàng nhập khẩu, tạo thời gian để các doanh nghiệp trong nước từng bước tiếp cận được với những công nghệ quản lý, công nghệ sản xuất mới. Lúc đó chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước từng bước cải thiện và đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
Trong thời gian tới hoạt động quản lý chất lượng tại Việt Nam sẽ gặp nhiều thử thách lớn, khi vừa thực hiện các cam kết đã ký với các tổ chức đa phương và những hợp tác song phương, vừa muốn thực hiện các chương trình, chiến lược quốc gia là hỗ trợ, bảo hộ nền sản xuất trong nước. Nhìn về 2014 – 2016 khả năng chất lượng hàng hóa trên thị trường Việt Nam vẫn nằm theo kịch bản thứ nhất, đến năm 2017-2020 khả năng chất lượng hàng hóa trên thị trường Việt Nam nằm theo kịch bản thứ ba. Giai đoạn 2014-2020 sẽ là giai đoạn thách thức lớn đối với hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng SPHH.
Như vậy, quá trình hội nhập sâu rộng toàn diện và đầy đủ sẽ đặt ra nhiều vấn đề lớn để Việt Nam phải giải quyết:

  • Rà soát hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật theo các yêu cầu đã cam kết;
  • Nghiên cứu các phương án, lộ trình, cách thức thực hiện để bảo vệ nền sản xuất trong nước và hỗ trợ hàng hóa xuất khẩu mà không trái với những cam kết;
  • Minh bạch hóa hệ thống thông tin pháp luật và các thông tin khác liên quan đến các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật cho sản phẩm, hàng hóa;
  • Vấn đề nâng cao chất lượng nhân lực về quản lý và làm chất lượng.

Mặc dù phải đối mặt với những thách thức khi hội nhập sâu rộng vào quốc tế, nhưng đây cũng là cơ hội tốt để chúng ta có ngay liều thuốc để giải quyết các điểm yếu kém trong điều hành vĩ mô. Gia nhập WTO, mặc dù đã có những đổi thay về thể chế đáng kể, nhưng chất lượng thể chế vẫn là một rào cản cho phát triển: tính minh bạch kém, ưu ái đầu tư cho doanh nghiệp nhà nước một cách bất bình đẳng, đầu tư công kém hiệu quả, hiệu lực quản lý của chính quyền chưa cao và đó cũng là nguyên nhân chủ yếu tạo ra bức tranh “ảm đạm” về chất lượng SPHH trên thị trường Việt Nam.

 



Bình luận
Gửi câu hỏi
Tin liên quan
Tin nổi bật
icon zalo
0937.619.299