Phong trào năng suất ở Việt Nam

Phong trào năng suất ở Việt Nam

Tác giả: ISOCUS | 21-04-2017, 3:37 pm

Phong trào năng suất của các nước tập trung vào việc tăng hiệu quả và năng suất cho các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ thông qua cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa con người, thiết bị và hệ thống quản lý.

Năng suất là một tư duy luôn mong muốn và cố gắng cải tiến và là một chuỗi các hoạt động để biến tư duy đó thành các hành động cụ thể bằng việc: các cá nhân và tổ chức không ngừng nâng cao hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng; luôn nỗ lực tìm kiếm các phương pháp quản lý tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, giảm thiểu những lãng phí và tiết kiệm thời gian bằng một hệ thống tốt hơn và công nghệ tiên tiến hơn; nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, mở rộng thị trường và nâng cao tiêu chuẩn sống.
Vai trò và tầm quan trọng của năng suất và cải tiến năng suất đã được nhìn nhận đúng ở Việt Nam sau khi Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN và sau khi tham gia vào Tổ chức Năng suất Châu Á vào 1-1-1996. Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng đóng vai trò là một tổ chức năng suất quốc gia phát triển phong trào năng suất trong cả nước. Trung tâm Năng suất Việt Nam được thành lập theo quyết định 1342/QĐ – TCCBKH ngày 26 tháng 8 năm 1997 để thực hiện chức năng này.
Trong nhiều năm, khái niệm năng suất ở Việt Nam vẫn được hiểu là năng suất lao động và mọi nỗ lực cải tiến năng suất chỉ tập trung vào tăng năng suất lao động, tức là tăng khả năng sản xuất của phân xưởng. Với quan điểm như vậy, theo đuổi mục tiêu năng suất tức là tìm mọi cách thức tăng sản lượng sản phẩm trong khi cố gắng giảm chi phí. Nhưng cách nhìn nhận năng suất như vậy chỉ phản ánh được khía cạnh hiệu quả sử dụng nguồn lực nhưng chưa tính đến hiệu lực của đầu ra. Theo đuổi mục tiêu cải tiến năng suất, đôi khi sử dụng các phương pháp cắt giảm chi phí như tăng cường độ lao động, giảm số lượng lao động và chạy theo sản lượng mà hy sinh yếu tố chất lượng. Ý nghĩa thực sự của năng suất đã không được hiểu một cách đầy đủ.
Trong bối cảnh như vậy, vai trò thúc đẩy phong trào năng suất quốc gia có nhiệm vụ cụ thể như sau:
– Quảng bá và nâng cao nhận thức về năng suất và vai trò của năng suất trong phát triển kinh tế xã hội một cách sâu rộng.
– Thúc đẩy phong trào năng suất trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thông qua hình thức đào tạo, tư vấn.
– Phổ biến áp dụng các phương pháp đo lường, đánh giá năng suất và cải tiến năng suất tại các doanh nghiệp.
– Phổ biến các công cụ, kỹ thuật tiên tiến, thực hành năng suất xanh và các hoạt động năng suất trên phạm vi toàn quốc.
– Thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá thông qua tăng cường đầu tư và áp dụng tiến bộ công nghệ để nâng cao năng suất chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh và phát triển các doanh nghiệp, cải tiến chất lượng, xúc tiến và thực hiện phong trào năng suất chất lượng.
Các biện pháp trên đây phải được thực hiện một cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, chất lượng hệ thống quản lý của tổ chức hoặc quả trình xét cả tầm vĩ mô và vi mô.
Với vai trò của mình, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Trung tâm năng suất Việt Nam thực hiện các hoạt động:
– Xúc tiến mạnh mẽ các hoạt động quảng bá tạo nhận thức sâu rộng về phong trào năng suất chất lượng.
– Phát triển các hoạt động đào tạo về ISO9000, ISO14000, quản lý sản xuất, kỹ thuật thống kê, năng suất xanh, công nghệ thông tin.
– Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn cho các doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý chất lượng: ISO9000, TQM, HACCP và các công cụ cải tiến chất lượng khác như 5S, Kaizen….
– Triển khai các dự án của APO để xúc tiến các hoạt động năng suất, chất lượng. Hợp tác với các tổ chức quốc tế để xây dựng các chương trình cải tiến năng suất.
– Nghiên cứu các khái niệm năng suất, chất lượng và các phương pháp quản lý, cải tiến năng suất chất lượng phục vụ cho cải cách kinh tế – hành chính.
Những kết quả đạt được từ phong trào năng suất trong những năm qua:
– Các doanh nghiệp Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua không ngừng cải tiến năng suất – chất lượng và hiệu quả quản lý. Các doanh nghiệp đều coi trọng các hoạt động cải tiến chất lượng, coi các chương trình cải tiến năng suất là một hoạt động không thể thiếu trong doanh nghiệp mình. Các hoạt động quản lý chất lượng, cải tiến chất lượng, tiêu chuẩn hoá và ứng dụng các tiêu chuẩn ngày càng được áp dụng hiệu quả và nhân rộng. Các hệ thống quản lý như ISO 9000, SA 8000, ISO 14000, GMP, HACCP đã trở thành các hệ thống quen thuộc với các doanh nghiệp.
– Các chương trình và công cụ cải tiến Kaizen, 5S, QCC, và các công cụ quản lý khác cũng được quan tâm và ứng dụng nhiều hơn.
– Các tổ chức, cơ quan hành chính nhà nước cũng tham gia hỗ trợ tích cực trong việc thúc đẩy phong trào bằng việc tiếp thu và phổ biến những phương pháp mới, ứng dụng những công cụ quản lý như ISO9000 để đẩy mạnh chất lượng phục vụ, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.
– Chất lượng cuộc sống và điều kiện môi trường của người dân tại các địa phương áp dụng điểm chương trình năng suất xanh đã được cải thiện rõ rệt thông qua việc thực hiện một loạt các giải pháp Năng suất xanh như áp dụng kỹ thuật biogas, xây dựng trạm cấp nước tập trung, áp dụng kỹ thuật phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM). Trung tâm Năng suất Việt Nam đã tiến hành dự án Năng suất xanh – Phát triển cộng đồng cho hơn 80 cộng đồng tại 21 tỉnh và kế hoạch là tiến tới nhân rộng ra khắp các tỉnh thành trong toàn quốc. Mục tiêu của chương trình Năng suất xanh nhằm cải thiện được điều kiện kinh tế xã hội cũng như giải quyết cơ bản các vấn đề về môi trường tại các địa phương, đồng thời mở rộng dự án sang áp dụng cho các ngành công nghiệp. Việt Nam là quốc gia đầu tiên đưa Năng suất xanh vào áp dụng tại cộng đồng, do vậy những kết quả và kinh nghiệm thu được từ dự án sẽ rất hữu ích không chỉ đối với việc thúc đẩy phong trào Năng suất xanh tại các vùng khác của Việt Nam mà còn trở thành một mô hình sinh động về việc áp dụng tại cộng đồng cho các quốc gia khác trong khu vực.
Phong trào năng suất quốc gia đã được chứng minh là đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội thiết thực không chỉ ở Việt Nam mà còn ở tất cả các nước khác trên thế giới và khu vực. Đây là hoạt động xúc tác thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bên vững. Với những kết quả bước đầu đã đạt được, phong trào năng suất trong thời gian tới nhất thiết phải phát huy tích cực vai trò xúc tiến các hoạt động năng suất, góp phần thực thi theo định hướng phát triển đất nước.
Định hướng phong trào Năng suất 2010 – 2020
Ngày 21-5-2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”. (Quyết định 172/QĐ-TTg).
Quan điểm của chương trình là:
– Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên cơ sở áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ.
– Nhà nước tạo nền tảng, hỗ trợ cho việc nâng cao năng suất và chất lượng. Doanh nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
– Các nhiệm vụ của chương trình được lồng ghép vào các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình quốc gia, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển liên quan đến nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Mục tiêu của chương trình:
Mục tiêu tổng quát:
– Xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; phát triển nguồn lực cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
– Tạo bước chuyển biến rõ rệt về năng suất và chất lượng của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đóng góp tích cực và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Mục tiêu cụ thể:
Giai đoạn 2010-2015:
– Xây dựng mới 4000 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), đảm bảo đồng bộ các TCVN cho các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của nền kinh tế; 45% TCVN của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực;
– Quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với 100% các nhóm sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn, vệ sinh, ô nhiễm môi trường;
– Thiết lập mạng lưới tổ chức đánh giá sự phù hợp quy chuẩn kỹ thuật; phù hợp tiêu chuẩn quốc gia đối với sản phẩm, hàng hóa chủ lực;
– Xây dựng phong trào năng suất và chất lượng tại 40 tỉnh, thành phố trong cả nước;
– Xây dựng đội gũ chuyên gia, cán bộ tư vấn về năng suất và chất lượng; tổ chức, cá nhân hoạt động chuyên nghiệp về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực;
– 40.000 doanh nghiệp được hướng dẫn ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng;
– 40% doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực xây dựng và thực hiện các dự án nâng cao năng suất và chất lượng;
– Góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tống độ tăng sản phẩm trong nước lên 30% vào năm 2015.
Giai đoạn 2016-2020:
– Xây dựng mới 2.000 TCVN; 60% TCVN của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực;
– 100% phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa chủ lực đạt trình độ quốc tế;
– 60.000 doanh nghiệp được hướng dẫn ứng dụng tiến bộ kho học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng;
– Xây dựng phong trào năng suất và chất lượng tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước;
– 100% doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực xây dựng và thực hiện các dự án nâng cao năng suất và chất lượng;

– Góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các yêu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) lên ít nhất 35% vào năm 2020.

 



Bình luận
Gửi câu hỏi
Tin liên quan
Tin nổi bật
0978.679.199