Phong trào năng suất Singapore

Phong trào năng suất Singapore

Tác giả: ISOCUS | 15-04-2017, 11:52 am

Singapore có bước phát triển lớn về kinh tế kể từ khi giành được độc lập. Đạt được thành tựu kinh tế to lớn này là nhờ Singapore đã quản lý rất tốt nguồn nhân lực và các chương trình năng suất quốc gia.
Trong những năm mới giành được độc lập, do sự khan hiếm về tài nguyên, Singapore phải phụ thuộc rất nhiều vào việc nâng cao năng suất để phát triển kinh tế. Chiến lược này đã được đưa vào chương trình công nghiệp hóa với mục đích giảm tỷ lệ thất nghiệp lúc đó đang ở mức cao. Trong năm 1965, “hạt giống” đầu tiên về Phong trào năng suất đã được “gieo trồng” với việc ký kết Bản hiến chương về sự phát triển công nghiệp giữa Ủy ban Công đoàn Quốc gia và Liên đoàn giới chủ Singapore. Bản hiến chương bao gồm các nguyên tắc về thực hành và thành lập Trung tâm Năng suất Quốc gia để thúc đẩy năng suất tại Singpore. Vào năm 1972, Trung tâm Năng suất đã được chuyển thành Cơ quan Năng suất Quốc gia (NPB) và được giao nhiệm vụ phát triển một lực lượng lao động đạt tầm cỡ thế giới.
Singapore được coi là một trong những nước có phong trào năng suất lớn mạnh và đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Phong trào năng suất Singapore bắt đầu vào năm 1981. Thời điểm đó, công nhân lảng tránh công việc, rất thiếu ý thức về chất lượng. Thay vì phát hiện và phòng ngừa các khuyết tật như công nhân Nhật Bản thường làm, công nhân Singapore bỏ lại đó cho người kiểm tra chất lượng, họ không quan tâm tới bất cứ gì xảy ra ngoài chức năng công việc của họ. Bên cạnh thái độ thiếu tích cực với công việc, người lao động còn thiếu kỹ năng và kiến thức cần thiết, mối quan hệ giữa lao động và quản lý rất phức tạp, đó là lý do dẫn đến năng suất quốc gia rất thấp. Để giải quyết tình huống này, Chính phủ Singapore đã thành lập Ban Năng suất (COP) để nguyên cứu các giải pháp cải tiến năng suất, ý thức làm việc và mối quan hệ giữa quản lý và lao động.
Mặc dù có những cản trở về tình trạng lao động trong bối cảnh như vậy, năm 1980 chính phủ Singapore quyết định khởi xướng chương trình cơ cấu lại nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế theo hướng tăng cường vốn, công nghệ và các hoạt động đem lại giá trị gia tăng cao. Năng suất được coi là chiến lược trọng yếu để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 8 đến 10 %.
Báo cáo của COP đã khuyến nghị phải khởi xướng phong trào năng suất để có thể giải quyết các vấn đề đang gặp phải. Phong trào năng suất mục đích tạo ra một môi trường thúc đẩy các hoạt động cải tiến năng suất ở cấp quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Phong trào này đã được thực hiện từ việc nhận được sự cam kết và tham gia nhiệt tình trong cả nước vào các hoạt động nâng cao năng suất. Mục đích cơ bản là nâng cao tiêu chuẩn sống của người dân. Phong trào này được lãnh đạo bởi Hội đồng năng suất quốc gia, Hội đồng có sự tham gia của 3 bên: Chính phủ, Giới chủ và Công đoàn. Cơ quan Năng suất Quốc gia là tổ chức thực hiện các khuyến nghị và đề xuất của Hội đồng.
Để thu hút được vốn đầu tư, Singapore phải phát triển lực lượng lao động có kiến thức, kỹ năng và tay nghề cao hơn để có thể vận hành và duy trì được các máy móc tự động. Người quản lý phải giới thiệu những kỹ thuật quản lý và hệ thống làm việc tiến bộ. Thái độ làm việc, mối quan hệ thích cực giữa lao động – quản lý và phương thức làm việc theo tổ đội đã trở thành yếu tố quan trọng.
Uỷ ban năng suất được thành lập. Một trong những khuyến nghị quan trọng của uỷ ban này là việc bắt đầu phát triển phong trào năng suất quốc gia để thảo luận và giải quyết các vấn đề năng suất trên diện rộng dưới sự chủ trì và thực thi của Hội đồng Năng suất – một tổ chức trực thuộc Chính phủ. Theo những khuyến nghị này, phong trào năng suất đã được hình thành đồng thời với việc thành lập Ban năng suất quốc gia (National Productivity Board, nay được đổi thành Ban Tiêu chuẩn, Năng suất và Đổi mới – Standards, productivity and Innovation Board (SPRING Singapore) để thực thi những hoạt động nhằm phát triển phong trào trên toàn quốc.
Các chương trình năng suất quốc gia Singapore
Các chương trình năng suất quốc gia được đề xuất cho từng giai đoạn để có thể tập trung vào các khía cạnh cụ thể của quá trình cải tiến năng suất. Các giai đoạn này chia ra thành giai đoạn nhận thức, giai đoạn hành động và giai đoạn làm chủ. Tại giai đoạn nhận thức, mục đích là tạo nhận thức cho các công ty và lực lượng lao động về năng suất. Hình thức truyền tải chủ yếu là thông qua các chiến dịch năng suất. Các chiến dịch năng suất này được khởi xướng với các chủ đề năng suất cụ thể như làm việc theo tổ đội và ý thức làm việc tích cực. Qua thời gian, các chiến dịch này nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các cấp cao nhất của chính phủ, giới chủ và công đoàn.
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn hành động, hành động là biến đổi từ nhận thức thành những chương trình cụ thể để cải tiến năng suất tại nơi làm việc. Để giúp các công ty thực hiện các hành động cải tiến năng suất, cơ quan Năng suất Quốc gia đã quảng bá cho việc sử dụng tư vấn quản lý, hướng dẫn các công ty sử dụng các chuyên gia tư vấn tư cũng như khuyến khích sự phát triển của các công ty tư vấn. Bên cạnh việc tư vấn, các khóa đào tạo tại chỗ cũng đã được tổ chức nhằm trang bị cho lực lượng lao động các kỹ năng nâng cao năng suất. Ban Năng suất Quốc gia (NPB) cùng với các công ty danh tiếng của Singapore như Singapore Airlines, Philips và Seiko phát triển các chương trình đào tạo quốc gia trong các lĩnh vực cụ thể cho người quản lý và người lao động.
Năm 1989, các công ty và các cá nhân đã tham gia tích cực vào các hoạt động năng suất. Tuy vậy, để duy trì được sự tự bền vững của phong trào thì cần thiết phải tạo ra được ý thức về năng suất và coi đó là một phần của ý thức công việc. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn làm chủ. Hội các nhà hoạt động năng suất được thành lập. Thông qua Hội, các nhà hoạt động năng suất đã được mời tham gia vào các chương trình năng suất để hướng dẫn, tổ chức và gây ảnh hưởng đến các thành viên khác trong lực lượng lao động. Khía cạnh khác của giai đoạn này là lĩnh vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các chiến dịch năng suất. Nâng cao mối quan hệ đối tác với lĩnh vực tư nhân đã giúp cho quá trình triển khai các hoạt động, giải pháp mới vào các ngành và lực lượng lao động.
Đến những năm 1990, các chương trình năng suất quốc gia đã tạo ra được một ý thức về sự cấp thiết cần thay đổi thái độ làm việc, nâng cao ý thức về chất lượng và làm việc theo tổ đội. Người chủ và người lao động đã nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của năng suất. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, môi trường kinh tế thay đổi, kết quả của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Nền kinh tế, từ nền kinh tế dựa vào lao động và sau đó dựa vào đầu tư, sẽ không còn phụ thuộc vào lao động hay đầu tư để phát triển.

Mở rộng nền kinh tế phải đến từ việc cải tiến hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực của đất nước hay được gọi là Năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP). Các yếu tố tác động đến TFP bao gồm phát triển nguồn nhân lực, các hệ thống quản lý, đổi mới và cơ cấu lại nền kinh tế. Điều này đã dẫn đến sự hợp nhất giữa NPB và Viện Tiêu chuẩn và Nghiên cứu Công nghiệp Singapore thành Cơ quan Năng suất và Tiêu chuẩn Singapore (PSB) vào năm 1996. Để quản lý tốt hơn các yếu tố quyết định đến TFP, các lĩnh vực hoạt động mới của PSB là quảng bá năng suất, phát triển nhân lực, ứng dụng công nghệ, phát triển công nghiệp và phát triển các tiêu chuẩn và chất lượng.
Trong một thời kỳ dài, mục tiêu trọng yếu của chương trình năng suất là giúp Singapore chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Môi trường mới này đã yêu cầu chuyển đổi từ sự phát triển dựa vào các yếu tố đầu vào thành sự phát triển dựa vào đổi mới và từ sự hạn chế về tài nguyên thành sự giàu có về trí thức. Năm 2002, PSB đổi tên thành Cơ quan Tiêu chuẩn, Năng suất và Đổi mới (SPRING) để tập trung vào phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quảng bá, và đổi mới, chuẩn hóa và đo lường.
Tác động của chương trình năng suất quốc gia
Tập trung vào khía cạnh con người trong giai đoạn đầu đã tạo ra nền tảng vững chắc cho các cải tiến trong tương lai. Chỉ số rõ ràng nhất đó là nhận thức của xã hội về năng suất, 90% lực lượng lao động hiểu về năng suất so với 40% trước đó. Ngày càng nhiều công nhân tham gia Nhóm kiểm soát chất lượng và đã tiết kiệm được khoảng 80 triệu đôla Sing cho công ty của mình. Chi phí cho đào tạo tăng lên 3.6% của tổng chi trả so với 1.8% trước đó. Quan trọng hơn, GDP trên đầu người tăng từ S$11,000 (năm 1981) lên tới S$37,600 (2003). Tiêu chuẩn sống được tăng lên, 92% dân số có nhà riêng và tuổi thọ trung bình là 77.
Các yếu tố thành công chính
Qua các năm, các chương trình năng suất quốc gia đã nhận được sự hỗ trợ lớn từ các tổ chức như Các cơ quan Dịch vụ công, Bộ quốc phòng và Ủy ban Công đoàn quốc gia. Mỗi tổ chức này đều có các Ủy ban Chỉ đạo Năng suất, Ủy ban này điều phối và tổ chức các hoạt động thường xuyên để duy trì các hoạt động cải tiến năng suất cho lực lượng lao động của mình. Các chủ doanh nghiệp cũng giữ vai trò quan trọng, đóng góp các nguồn lực và quản lý các chương trình năng suất ngành và quốc gia. Hội đồng năng suất Quốc gia giữ vai trò chủ đạo trong việc đưa ra các chiến lược và điều phối hoạt động của các bên liên quan.
Yếu tố quan trọng khác đó là sự chấp nhận theo mô hình tốt nhất. Khi mới khởi đầu, các chương trình năng suất quốc gia đã rút ra được những bài học từ những mô hình khác và ứng dụng các mô hình đó vào thực tế của mình. Phong trào năng suất Nhật Bản là một mô hình được học hỏi. Thông qua sự hỗ trợ từ Chính phủ Nhật cho Dự án phát triển Năng suất, các chuyên gia Nhật Bản đã được cử sang để trợ giúp phát triển chương trình năng suất tại Singapore và Singapore cũng đã cử người tham dự các khóa đào tạo tại Nhật Bản. Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) và Trung tâm Năng suất Nhật Bản cho sự Phát triển Kinh tế Xã hội (JPC-SED) cũng cung cấp các khoá đào tạo về các giải pháp năng suất.
Các chương trình năng suất quốc gia Singapore đã đặt cơ sở cho sự phát triển năng suất vững bền tại Singapore.



Bình luận
Gửi câu hỏi
avatar
bui cong thanh

tu van iso can nhung gi

(22-05-2017, 10:55 am)
avatar
Admin Adminitrastor

Qua các năm, các chương trình năng suất quốc gia đã nhận được sự hỗ trợ lớn từ các tổ chức như Các cơ quan Dịch vụ công, Bộ quốc phòng và Ủy ban Công đoàn quốc gia. Mỗi tổ chức này đều có các Ủy ban Chỉ đạo Năng suất, Ủy ban này điều phối và tổ chức các hoạt động thường xuyên để duy trì các hoạt động cải tiến năng suất cho lực lượng lao động của mình. Các chủ doanh nghiệp cũng giữ vai trò quan trọng, đóng góp các nguồn lực và quản lý các chương trình năng suất ngành và quốc gia.

(19-04-2017, 2:38 pm)
avatar
Admin Adminitrastor

(19-04-2017, 2:32 pm)
avatar
Admin Adminitrastor

Các chương trình năng suất quốc gia Singapore đã đặt cơ sở cho sự phát triển năng suất vững bền tại Singapore.

(19-04-2017, 2:29 pm)
avatar
Admin Adminitrastor

like

(19-04-2017, 2:29 pm)
Tin liên quan
Tin nổi bật
icon zalo
0937.619.299