Vai trò của năng suất trong phát triển kinh tế

Vai trò của năng suất trong phát triển kinh tế

Tác giả: ISOCUS | 21-04-2017, 3:37 pm
Khái niệm năng suất cũng phát triển cùng với thời gian mà không chỉ dừng lại ở chỉ số...

Khái niệm năng suất cũng phát triển cùng với thời gian mà không chỉ dừng lại ở chỉ số hiệu suất.

Bắt nguồn từ vấn đề chi phí và chất lượng, phạm vi của nó giờ đã mở rộng, bao hàm toàn bộ các mối quan tâm của xã hội như tạo ra và bảo đảm việc làm, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường. Cách tiếp cận về năng suất này cho thấy khi một công ty triển khai chương trình cải tiến năng suất, những tác động của nó sẽ vượt khỏi phạm vi công ty, tới cả cấp độ quốc gia và cho tới người dân của quốc gia đó.
Năng suất ở cấp doanh nghiệp được hiểu là phương pháp sản xuất hàng hóa và dịch vụ có chất lượng và giá trị cao với chi phí thấp nhất. Điều này sẽ cho phép công ty cung cấp hàng hoá và dịch vụ với giá cạnh tranh. Kết quả là nếu tiêu thụ tốt thì lợi nhuận của công ty sẽ tăng và điều này mang lại rất nhiều lợi ích như:
– Mở rộng hoạt động từ đó tạo việc làm và cơ hội phát triển cho nhân viên;
– Đầu tư vào hệ thống và công nghệ hiện đại để tiếp tục nâng cao năng suất;
– Nhân viên thu nhập cao hơn và có môi trường làm việc tốt hơn, từ đó mức sống và tinh thần thái độ của họ được nâng cao;
– Đóng góp nhiều hơn cho xã hội thông qua thuế doanh nghiệp và tăng cường sự hỗ trợ cho các hoạt động xã hội.
Ở cấp quốc gia, khi các công ty đều tìm cách cải tiến năng suất và tăng cường khả năng cạnh tranh thì việc làm sẽ được tạo ra nhiều hơn và doanh thu sẽ tăng. Chính điều này là động lực làm tăng sức mạnh của mỗi quốc gia, và như vậy chính phủ mới có thể làm được nhiều việc hơn nữa cho người dân và nền kinh tế nói chung. Chẳng hạn, nâng cấp cơ sở hạ tầng, làm sạch môi trường, tăng cường và cải tiến các dịch vụ công cộng và tăng phúc lợi xã hội cho người nghèo, người khuyết tật và những người khác.
Đối với cá nhân, năng suất và hiệu quả kinh doanh của công ty cũng có nghĩa là công việc ổn định hơn, nhiều cơ hội hơn, mức lương cao hơn và đương nhiên chất lượng cuộc sống cũng sẽ tốt hơn.
Vai trò của năng suất doanh nghiệp
Nền kinh tế của một đất nước bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ. Người ta phân thành các thành phần kinh tế như khu vực sản xuất, khai thác, lợi ích công cộng, thương mại, tài chính… Năng suất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thể được nghiên cứu theo nhiều phương diện ở tại các quốc gia khác nhau. Năng suất của một thành phần kinh tế là một chức năng của năng suất thuộc ngành dọc và lần lượt, các nhóm doanh nghiệp trong khuôn khổ ngành dọc. Do đó có thể coi năng suất doanh nghiệp là xương sống của lĩnh vực năng suất và những thành phần kinh tế có liên quan. Người ta xem xét tới giá trị và tính thiết yếu của nó trên phương diện phương pháp luận và đo lường năng suất của hệ thống kinh tế, cũng như khi đề cập sâu vào năng suất doanh nghiệp trên khía cạnh năng suất khu vực và năng suất quốc tế thông qua các doanh nghiệp, các tập đoàn hay các ngành dọc.
Chức năng của các doanh nghiệp bao gồm một loạt các hoạt động rộng khắp. Họ có thể là các tổ chức hoạt động vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Trong cả hai trường hợp trên, các tổ chức đều phải đổi mặt với sự thâm hụt hoặc tình trạng lỗ lãi thất thường cho dù những kết quả trên có được thể hiện một cách cụ thể trong tuyên bố hay mục tiêu hoạt động của họ hay không. Một tổ chức hoạt động với năng suất cao có thể có nhiều khả năng thu hồi vốn đầu tư hơn. Những tổ chức như vậy cũng có sức đề kháng cao hơn với mọi trạng thái của nền kinh tế. Mặt khác, một tổ chức hoạt động với năng suất thấp cũng có thể đạt được thặng dư tương đối do các điều kiện cạnh tranh khác trong kinh doanh mang lại. Nhưng bên cạnh đó nó rất dễ bị tổn thương và lâm vào tình trạng khủng hoảng trong điều kiện nền kinh tế đi xuống. Tuy nhiên, điều này cũng phụ thuộc vào các điều kiện kinh doanh, kinh tế và tình trạng tài chính xung quanh hay các điều kiện khác. Các chính sách về giá đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình. Đặt hai giả thiết cạnh nhau và xem xét vấn đề dưới góc độ ít người muốn quan tâm về năng suất doanh nghiệp, đó là các tổ chức với những chức năng được hoạch định ở mức độ năng suất thấp. Một ai đó có thể đưa ra câu hỏi rằng đâu là mức độ mà ở đó năng suất được coi là thấp?
Sẽ có vô số các câu trả lời khác nhau cho câu hỏi năng suất ở mức thấp tuỳ thuộc vào từng đặc tính của xã hội. Nhưng những người theo chủ nghĩa thực dụng trong kinh doanh sẽ không muốn có một khái niệm mơ hồ, do đó họ muốn có những câu trả lời chính xác về tình trạng lỗ lãi hay tình trạng “sức khỏe” có thể trông thấy được của một doanh nghiệp. Các nhà quản lý kinh doanh các nhà khoa học về năng suất, các chuyên gia trong những lĩnh vực tương tự, hoặc các nhà khoa học về quản lý, các nhà kinh tế học… hoàn toàn không có khuyết điểm khi mỗi người một quan điểm muốn giải thích khái niệm thiên về chuyên môn của mình hơn. Nếu như có hạn chế ở đây thì chỉ có thể là sự dồi dào về mặt kiến thức chuyên môn tạo nên những khoảng cách khó hiểu trong việc giao tiếp. Đề tài yếu kém về mặt năng suất luôn trở thành một trong những đề tài nhạy cảm để thảo luận. Nhìn chung không ai muốn bỏ qua vấn đề năng suất thấp. Chúng ta có thể nhận được những dấu hiệu phản hồi để hiểu được những chỉ số đo lường về năng suất, giống như tín hiệu giao thông cho chúng ta biết khi nào có thể đi lại suôn sẻ và khi nào nên dừng lại trên đường.
Trước khi phát triển công nghệ sản xuất với quy mô lớn, được minh hoạ bởi Henry Ford và xe hơi “mô hình T” của ông, nhà quản lý tài ba này từng làm việc ở các vị trí như: người đưa hàng, thư ký, bởi có tay nghề cao và khả năng kinh doanh thiên bẩm của mình nên ông được bổ nhiệm vào vị trí quản lý giám sát, có trách nhiệm trước một tổ công nhân với tay nghề tương đương. Bởi nhiệm vụ đũi hỏi ở ụng phải sử dụng đến những kiến thức,õôìôó hay một hệ thống phương pháp luận về “quản lý” và được ứng dụng dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Nói chung, phong cách quản lý đó trở thành một Kế hoạch – Kiểm soát – Định hướng đối với cả phương pháp được sử dụng đối với lực lượng lao động vào thời điểm đó.
Với sự phát triển của công nghệ ngày nay và viễn cảnh trong tỏt cả các kỷ nguyên phát triể của loài người, sẽ có nhiều khó khăn trong tư duy quản lý, khi đặt vấn đề kiểm soát một cách chi tiết vào tất cả các hoạt động trong một tổ chức cụ thể nào đó – có thể là ngành khai khoáng, sản xuất, vận tải hay các hoạt động dịch vụ khác. Vai trò của một nhà quản lý hiện đại là thúc đẩy sức sáng tạo và phát triển một môi trường làm việc mà ở đó lực lương lao động không chỉ đơn thuần nhận được các khoản lương thưởng mà còn phải cảm nhận được sự thoả mãn sâu sắc. Edwin Diamond đó từng nói “Vai trò đích thực của quản lý là dám mạo hiểm. Người lãnh đạo không thể yêu cầu nhân viên của anh ta phải trở nên sáng tạo – họ phải được cung cấp và hỗ trợ những điều kiện mà với chúng, sự sáng tạo mới có khả năng phát triển. Những điều kiện như vậy có thể kể đến như: tinh thần làm việc cao của nhân viên, cảm giác có ai đó lắng nghe ý kiến của mình và thuyết phục được mọi người rằng: đạt được kết quả tốt sẽ có phần thưởng xứng đáng”.
Chúng ta luôn phải tâm niệm rằng sản xuất hàng loạt thường diễn ra trong khuôn khổ một doanh nghiệp vừa và nhỏ; thường là một nhà thầu phụ của một tập đoàn lớn. Những tổ chức lớn của các quốc gia và đa quốc gia có khả năng thuê mướn các nhà tâm lý học, các nhà khoa học xã hội và những nhà khoa học khác để phát triển môi trường làm việc ngày một tốt hơn.
Nền công nghệ càng hoàn thiện và đa dạng bao nhiêu thì áp lực đối với nhu cầu phát triển về mặt giao tiếp càng đòi hỏi phải có ý nghĩa và cởi mở bấy nhiêu. Điều này có nghĩa luồng thông tin phải được chia sẻ đều đặn giữa các chuyên gia kỹ thuật thuộc các lĩnh vực khác nhau trong tổ chức. Giải pháp tốt nhất đối với những vấn đề thường gặp trong một nền công nghiệp hiện đại hoặc các vấn đề xã hội là thảo luận, trao đổi ý tưởng và thể hiện thái độ của bản thân một cách tự nhiên, từ đó có thể phát sinh ra nhiều ý tưởng mới được phát triển một cách có lôgíc trong môi trường bình đẳng, chân thực, tôn trọng đối với mọi cấp độ trong tổ chức. Phương tiện tốt nhất để tiếp cận phương pháp này chính là việc phát triển một nhóm chuyên giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình. Thành viên của những nhóm như vậy có thể từ nhiều phòng ban khác nhau, tuỳ thuộc vào yêu cầu và mục đích hoạt động của nhóm. Một trong những mối quan tâm chính đối với các vấn đề chưa được giải quyết là những cơ hội áp dụng các tiêu chí chưa thực tương xứng đối với các yêu cầu của các nhà quản lý, đặc biệt ở mức độ cao cấp. Nó chỉ làm cho các nhà quản lý cảm thấy thêm rắc rối với một hệ thống phức tạp gây khó khăn cho hoạt động phát triển hệ thống. Một cách tiếp cận khác cũng không kém phức tạp đó là lĩnh hội những kỹ thuật quản lý mới. Thực ra, để hoạt động có thể thành công cần phải có một khoảng thời gian nhất định để đả thông về mặt tư tưởng hay khả năng chấp nhận của các thành viên trong nhóm đối với việc ứng dụng một triết lý quản lý mới.
Mọi tổ chức kinh tế cần phải hoạt động để tồn tại và phát triển. Nếu không phát triển, tất yếu sẽ dẫn đến sự trì trệ và suy thoái. Những tổ chức nào đả thông được tư tưởng cho các lãnh đạo kinh doanh, những người cả đời luôn tất bật với công cuộc phát triển, cải tiến, họ sẽ không do dự và sẵn sàng đương đầu với mọi thay đổi trên nhiều phương diện, chính họ sẽ là những người có khả năng vượt qua những thách thức, khó khăn trong nền kinh tế với hiệu quả cao. Có thể nhận ra sự tăng trưởng thực sự thông qua việc đánh giá về các mức độ năng suất. Bằng không chỉ là việc nghiên cứu các con số trong bảng cân đối kế toán, những con số chỉ phản ánh kết quả hoạt động khả quan của doanh nghiệp. Việc cải tiến năng suất của một doanh nghiệp phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh, phải hoạch định trong một môi trường kinh tế đa chiều buộc doanh nghiệp phải khéo léo chèo chống để tồn tại và vẫn phải tiếp tục có lãi và khả năng thu hồi vốn cao. Để đạt được điều này cũng phụ thuộc nhiều vào “dự trữ” – không nhất thiết chỉ liên quan đến vấn đề tài chính như hầu hết mọi người vẫn đề cập đến, nhưng đối với việc “tích trữ khả năng tiềm tàng” của con người, những người sẽ cùng sát cánh bên nhau trong một tổ chức, quyết tâm đồng lòng đối phó với các tình huống nảy sinh của những thách thức về mặt kinh tế. Những con người như vậy được coi như thế mạnh của một tổ chức, nói một cách khác, họ chính là “năng suất tiềm tàng”. Điều này thể hiện một hình thái động lực đối với việc hoạch định năng suất trong tổ chức. Thậm chí nó cũng vượt quá cả giới hạn của năng suất và giữ cho con tàu doanh nghiệp luôn vững tiến trên biển cả, cho dù biển có sâu và dữ dội đến mấy.
Quay lại câu hỏi về năng suất ở cấp độ thấp của một doanh nghiệp. Nó gồm có hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất thuộc về bản chất và khía cạnh còn lại thuộc về những vấn đề có liên quan. Một doanh nghiệp cần phải đặt vị trí của mình lên trên “điểm giới hạn năng suất” nếu muốn tồn tại. Một tổ chức như vậy có thể được coi như đã vượt quá giới hạn của năng suất cũng như vượt qua cả cái ngưỡng của năng suất thấp. Các nhà kinh tế chính trị đó quan sát được trạng thái bất lực ở một số doanh nghiệp trong việc vượt qua điểm giới hạn năng suất trong một thời gian dài, hoạt động đó đòi hỏi chính phủ phải bơm các nguồn lực dồi dào liên tục, với những mục tiêu xã hội. Tình huống tương tự đó xảy ra từ thời còn Liên bang Xô viết cũ và tại một số nước Nam Á bị cấm vận, giờ đây họ đang chuyển hướng, hướng tới thị trường toàn cầu với nhiều cơ hội hơn thông qua việc tự do hoá. Việc chuyển đổi có thể diễn ra thành công chỉ thông qua việc nâng cao năng suất. Thật là một câu trả lời dễ dàng! Nhưng để đạt được điều đó thì quả thực vô cùng khó khăn. Chúng ta có thể thấy điều này thông qua một số nước như Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc… họ sẽ cho ta thấy họ đã làm được những gì. Những quốc gia này được coi như từ điển sống về năng suất ngày nay, họ đã đi tiên phong và trở thành những đại diện tiêu biểu, chuyển đổi từ năng suất thấp, vượt qua ranh giới của năng suất để đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế cũng như trong lĩnh vực năng suất. Nói một cách khác, năng suất của một doanh nghiệp và sự phát triển năng suất của doanh nghiệp đó phải tương xứng với các đối thủ cạnh tranh và có phần nổi trội hơn. Có sự tương tác lẫn nhau giữa việc phát triển của tổ chức về mức độ hoạt động và sự tăng trưởng về năng suất.
Mọi doanh nghiệp với khả năng về công nghệ và các nguồn lực ở mức độ cao có thể hoạch định được mức độ năng suất với tên gọi “Mức độ ranh giới của năng suất”. Sự tăng trưởng của năng suất cần được nhìn nhận đần dần theo từng cấp độ trong quá trình doanh nghiệp hướng tới điểm ranh giới năng suất. Nó có thể được kiểm soát cùng với các nỗ lực để có thể duy trì sự tăng trưởng năng suất liên tục, nhưng chúng ta cũng cần phải đặt nó vào vị trí tương quan với các giá trị giảm dần. Trước hết phải ưu tiên cho hoạt động thúc đẩy doanh nghiệp hướng tới mức độ năng suất ranh giới, cần phải có những đánh giá, nhận thức về sự thay đổi trong công nghệ và một số khía cạnh khác. Công nghệ và Năng suất là biểu tượng. Có thể đạt được những bước nhảy vọt về lượng tử trong năng suất phụ thuộc vào loại công nghệ – điện tử, vi tính, hoá học… Những thay đổi này có thể mang lại những bước tiến đáng kể cho năng suất doanh nghiệp. Cấp độ ranh giới của năng suất trong một tổ chức có thể được quyết định bởi kết quả của những quyết định mang tính dài hạn, cũng như việc tận dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực mà tổ chức đang sở hữu. Có thể lấy lại những ví dụ cũ như: việc phân bổ cơ sở vật chất, lựa chọn nguồn nhân lực, lựa chọn thiết kế của sản phẩm/dịch vụ, sử dụng công nghệ phù hợp… Tận dụng nguồn lực một cách có hiệu quả bao gồm cả việc tối ưu hoá khả năng sử dụng máy móc, trang thiết bị và cơ sở vật chất, chế biến có hiệu quả nguyên vật liệu thô để chuyển hoá thành sản phẩm hoàn thiện có chất lượng hàm chứa những thông số của thị trường, tận dụng các nguồn lực một cách tiết kiệm, đào tạo và huy động con người trong tổ chức nhằm hướng tới mục tiêu chung của doanh nghiệp… Quản lý một doanh nghiệp cần phải chú ý liên tục triển khai các hoạt động đánh giá các ranh giới chỉ số năng suất, giúp doanh nghiệp có thể duy trì sự cạnh tranh và tiếp tục tăng trưởng – nhằm cung cấp dịch vụ có chất lương và kịp thời tới khách hàng – nhằm cung cấp các cơ hội và động lực công tác cho mọi người trong doanh nghiệp – nhằm hướng về tương lai – hoặc ở mức độ cao hơn, tạo ra những người có nhiệt huyết, năng nổ – định hướng tới một hệ thống kinh tế có khả năng đổi mới và nhạy cảm trong việc đương đầu với những thay đổi mang tính ngắn hạn hoặc dài hạn theo những yêu cầu của môi trường kinh doanh toàn cầu. Mức độ ranh giới của năng suất không nên bị hiểu sai rằng luôn có một khái niệm và giới hạn cụ thể về năng suất của một doanh nghiệp. Có thể cải tiến năng suất liên tục, cũng linh hoạt như sức sáng tạo và trí tưởng tượng của loài người. Ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay! Luôn luôn có những cách tốt hơn!
Những lợi ích của năng suất và chất lượng trong kinh doanh và sản xuất
Những phức tạp trong việc xử lý các vấn đề về năng suất do cả những yếu tố ảnh hưởng lẫn nhau trong nội bộ doanh nghiệp cũng như những yếu tố tác động từ bên ngoài của môi trường kinh tế – xã hội tạo ra. Ví dụ, tiền công thấp không bao giờ tạo ra động lực cho nâng cao năng suất. Tương tự như vậy, trả lương cao nhưng thiếu sự quan tâm đến sự phát triển con người cũng không huy động con người một cách đầy đủ. Mặt khác, thậm chí khi đã trả cao hơn mức lương trung bình nhưng nếu một doanh nghiệp nào đó trong cùng lĩnh vực kinh doanh hoặc ở vùng lân cận tăng tiền thưởng và các lợi nhuận khác, họ vẫn có thể gây ảnh hưởng đến động lực của lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Kinh nghiệm cho thấy trong rất nhiều trường hợp, các giải pháp cho những vấn đề về năng suất chỉ xử lý các triệu chứng được nhìn nhận một cách phiến diện hơn là quan tâm đến nguồn gốc của vấn đề nhằm đưa ra chiến lược ngăn chặn. Cải tiến năng suất được thực hiện thậm chí không cần đến sự đo lường năng suất. Nhưng để cải tiến năng suất của một doanh nghiệp cần có một hệ thống đo lường hợp lý và toàn diện. Các tác động và lợi ích từ công nghệ thông tin nên được ứng dụng một cách đầy đủ trong việc phát triển các hệ thống đo lường năng suất. Công nghệ mô phỏng nên được khuyến khích trong việc lập kế hoạch cho các mục tiêu về năng suất trong tương lai và thực hiện các kế hoạch hành động để đạt được các mục tiêu đó. Sự đo lường về năng suất bản thân nó ít thay đổi và ít hữu dụng, trừ khi nó được áp dụng trong việc cải tiến năng suất và cung cấp một sự phản hồi liên tục trong việc đưa ra các quyết định về quản lý. Quá trình đo lường năng suất là xác định số lượng, giám sát và điều khiển các kết quả trong mối liên hệ với các mục tiêu về năng suất.
Năng suất của một doanh nghiệp liên quan đến một vài yếu tố và biến số. Trong hoạt động của một doanh nghiệp sản xuất hay dịch vụ có quá trình gia tăng giá trị. Nếu chi phí cho sự gia tăng giá trị thấp hơn giá trị thu được, doanh nghiệp đạt được thặng dư hay lợi nhuận. Ngược lại, nếu giá trị thu được thấp hơn chi phí cho giá trị gia tăng, doanh nghiệp bị thâm hụt hay lỗ. Nói đơn giản hơn, lợi nhuận có thể được biểu diễn theo sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Doanh thu phụ thuộc vào đơn giá và khối lượng hàng hoá hay dịch vụ đã bán. Chi phí là giá trị của các nguyên liệu đầu vào để sản xuất hàng hoá hay dịch vụ đó. Những nhà quản lý chịu trách nhiệm sản xuất phải xử lý một cách hiệu quả sự chuyển đổi đầu vào thành đầu ra và cải tiến hiệu quả sản suất của doanh nghiệp nên các quyết định của họ có ý nghĩa then chốt đối với thu nhập và chi phí, ảnh hưởng đến lỗ hay lãi.
Các nhà quản lý sản xuất chịu trách nhiệm chính trong việc sản suất hàng hoá có chất lượng đáp ứng yêu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất và phải thấp hơn giá bán. Sự khác nhau (giữa giá bán và chi phí sản xuất) càng lớn, số lỗ hay lãi liên quan đến lượng hàng hoá sản xuất ra càng rõ. Giá bán có liên quan đến các yếu tố như mức độ cạnh tranh, nhu cầu, sở thích và chất lượng hàng hoá/dịch vụ. Chi phí sản xuất, ngược lại, dựa vào những yếu tố như chất lượng và chi phí cho nguyên liệu đầu vào, nhân lực, dịch vụ/tiện ích và năng suất của quá trình chuyển những nguyên liệu đầu vào thành sản phẩm hàng hoá/dịch vụ đầu ra. Đo lường năng suất xác định hiệu quả của chuỗi quá trình chuyển đổi đó. Đo lường chất lượng quan tâm đến việc một sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng tốt đến đâu các nhu cầu của khách hàng.
Năng suất của một doanh nghiệp có tác động quan trọng đến những vấn đề quốc gia như lạm phát, sự cạnh tranh ở trong nước cũng như quốc tế, mức độ việc làm, ngân sách quốc gia, sự cân bằng giữa số tiền bỏ ra và sở thích. Một nghiên cứu do Viện Kỹ sư Công nghiệp của Mỹ tiến hành cho thấy 60% các nhà chức trách về công nghiệp tin rằng năng suất là một trong hai hoặc ba vấn đề nghiêm trọng nhất mà đất nước phải đối mặt. Hầu hết các nhà chức trách đó cho rằng năng suất thấp có những hậu quả như:
– Làm tăng những khó khăn trong việc bán các sản phẩm và dịch vụ cả trong nước cũng như ra nước ngoài.
– Làm giảm chất lượng cuộc sống cũng như ảnh hưởng trên trường quốc tế.
– Gây ra khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu về sức khoẻ, giáo dục và phúc lợi xã hội.
Năng suất và chi phí sản xuất có quan hệ tỉ lệ nghịch, có nghĩa là nâng cao năng suất làm giảm chi phí sản xuất và điều đó có thể tạo ra hiệu quả mạnh mẽ trong việc bán hàng, nhờ đó tăng đầu ra của hệ thống giá trị gia tăng, tạo ra nhiều việc làm hơn. Nhật, Đức, Đài Loan, Singapore là những bằng chứng cho thấy nâng cao năng suất đã giúp tăng cường vị trí cạnh tranh trên trường quốc tế như thế nào.
Năng suất và Chất lượng đóng một vai trò thiết yếu, bất kể là trong lĩnh vực nào: Sản xuất; Khai thác mỏ; Dịch vụ; Giải trí; Giao thông; Du lịch; Ngân hàng, từ Trung ương đến địa phương. Tất cả các bộ phận quản lý như vận hành, tài chính, nhân sự, kỹ thuật, tiếp thị trong cả doanh nghiệp lợi nhuận, doanh nghiệp phi lợi nhuận hay doanh nghiệp nhà nước đều cần hoạt động đi đôi với nâng cao năng suất. Năng suất và Chất lượng là hai mặt của một vấn đề. Các sản phẩm và dịch vụ phải được chào mời với chất lượng như mong muốn với một giá phải chăng và ngày càng phải tốt hơn.



Bình luận
Gửi câu hỏi
Tin liên quan
Tin nổi bật
icon zalo
0937.619.299